Chào mừng quý vị đến với Website của Hồ Thị Mơ.

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Gốc > Du lịch >

Du Xuân đất Phật

Tháng Giêng rét Đài...!

Mồng 9 tháng Giêng, sau mấy ngày nắng nóng, hôm nay đất trời đã trở lại tiết xuân.

Chiều xuân se se lạnh, nắng rắc vàng mật ong nhưng vẫn thiếu chút lất phất mưa bay. Thời tiết thật ấm và đẹp, khiến cho hồn Xuân và tình Người xao xuyến khác thường. Nhớ câu thơ trong truyện Kiều của cụ Nguyễn Du: Chiều xuân dễ khiến nét thu ngại ngùng .

Hẹn một chuyến du xuân chốn cửa Thiền - Đầu năm đi Lễ cầu may.

Hai giờ chiều, như dự định mình đã có mặt tại đường vào chùa Bút Tháp, bắt đầu chuyến du xuân lễ Phật cầu may đầu năm:

 110_500                                 Qua cổng Tam quan là đã vào đến đất Phật.

Vào chùa, nghe văng vẳng bên tai du khách những lời ca quan họ thật ngọ̣t ngào tình tứ: "Vào chùa mượn chiếu í i, chiếu, chiếu chùa ra í ơ em ngồi, đôi người đàn, đôi em lý, lý em hát, bớ giọng tính, bớ lính tình tinh tính a giọng tình, tình tình rằng i tính tinh ơi, ơ chùa là em đi vào chùa.

Vào chùa tay em thắp í ơ, thắp, thắp tuần hương í em lên đèn, đôi người cầu, đôi em khấn, khấn em vái, bớ giọng tính, bớ lính tình tinh tính a giọng tình, tình tình rằng i tính tinh ơi, ơ chùa là em đi khẩn cầu".

Bút Tháp là một trong những ngôi chùa cổ nhất ở đất Kinh bắc xưa. Chùa thuộc xã Đình Tổ huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh. Trải qua sự thăng biến của bao đời, chùa cổ uy nghiêm và tĩnh lặng trong không gian văn hoá đất Bắc. Bút Tháp với sự huy hoàng của cái nôi Phật Giáo, dòng Lâm tế phát xuất thời Lê, tạo thành mạch nguồn đạo giáo thâm sâu trong tâm thức dân tộc. Chùa cổ dấu xưa đến nay đã trải qua mấy trăm năm, hưng tích vẫn còn với thời gian, mà lịch sử vẫn là điều chưa được thấu rõ.

Bút Tháp chùa xưa, tên chữ là "Ninh Phúc Thiền tự", lại là chốn "Thiền lâm cổ tự". Bút Tháp là tên gọi theo dáng tháp của Thiền sư Chuyết Chuyết do đệ tử là Thiền sư Minh Hành dựng năm 1647.

Chùa có từ bao giờ?

Theo Bắc Ninh phong thổ tạp kí, chùa có từ thời Trần, sách ghi chuyện tổ thứ ba thiền phái Trúc Lâm là Huyền Quang tôn giả thăm chùa Ninh Phúc mà dựng toà "Cửu phẩm liên hoa". Nhưng sách được chép vào thời Nguyễn nên cứ liệu trên chỉ là giả thuyết để nhận định lịch sử về ngôi chùa mà thôi. Lại theo L.Bezacier trong tác phẩm Nghệ thuật Việt Nam thì chùa có niên đại từ thế kỷ 14, nhận định này cũng tương tự như Bắc Ninh phong thổ tạp kí.

Như vậy chùa Ninh Phúc đã có lịch sử từ thời Trần và một khoảng thời gian dài không có sử sách nào ghi chép về diễn biến của ngôi chùa cho đến sau này khi chùa được vua chúa nhà Lê Trịnh tu sửa vào đầu thế kỷ 17. Năm 1633 Thiền sư Chuyết Chuyết và đệ tử Minh Hành phiêu dạt sang phương Nam và đến kinh đô Đại Việt. Tại kinh đô thầy trò Thiền sư đã được vua Lê chúa Trịnh và hoàng thân quốc thích Lê triều mộ đạo sùng tín. Sau đó Chuyết Chuyết về trụ trì chùa Phật tích trên núi Tiên Du. Theo văn bia và biển ngạch (hoành phi) trong chùa ghi lại thì vua Thần Tông và chúa Trịnh Tráng đã cho tu sửa lại chùa và dựng biển ngạch "Sắc kiến Ninh Phúc thiền tự" cùng "Ngự chế Đại hùng bảo điện" vào năm Dương Hoà thứ 8 (1642). Điều đó cho thấy chùa có thể được dựng vào năm 1642 và thời gian Chuyết Chuyết trụ trì chùa Phật Tích thì chùa Ninh Phúc được vua Lê chúa Trịnh và thập phương tín thí cho tu sửa. Chuyết Chuyết chuyển sang trụ trì chùa Ninh Phúc được 2 năm thì mất (năm 1644), đệ tử của ông là thiền sư Minh Hành kế tục làm thủ toà chùa Bút Tháp. Minh Hành lại cho trùng hưng ngôi chùa thêm khang trang và vững bền tới ngày nay với việc cho dựng hành lang đá, cầu đá và tháp Báo Nghiêm cũng như soạn dựng các văn bia năm 1647. Chính Lệnh chỉ của chúa Trịnh Tráng cũng cho "miễn sưu sai tạp dịch" trong dịp "bản xã có ngôi cổ tích danh lam là chùa Ninh Phúc nay được dựng sửa lại" (Phụng Lệnh chỉ-1646).

Sang đầu thế kỷ 18, chùa Ninh Phúc lại được tu sửa với quy mô lớn. Bia "Ninh Phúc thiền tự bi kí" dựng năm Vĩnh Thịnh 10 (1714) chép rằng "trong xã vốn có danh lam cổ tích là chùa Ninh Phúc, tuy được mở dựng bởi bậc thánh đời trước, nhưng qua nhiều năm đã hư hoại" và được các quan viên như Luân Quận công họ Lê, Nhu Thuận quận chúa họ Trịnh, Thể Thái Hầu là Lê Hội, Dĩnh Quận Công Lê Đĩnh, Ninh Lộc Hầu Lê Vịnh,... cho tu sửa thêm khang trang hơn mà "chẳng tiếc ngàn vàng sắm mua toàn gỗ tốt, lại được dân làng góp sức mời thợ cất dựng sửa sang, điện thờ nguy nga, chùa chiền rộng rải, trang điểm một bầu thế giới Lưu ly" (Khánh Lưu bi kí-1714). So với trước kia thì sau khi chùa được dựng lại thêm "dãy nhà riêng ở phía sau Phật đường", chùa đã quy mô to lớn hơn trước hơn rất nhiều.

Sau đó hơn 20 năm thì chùa lại được trùng tu một lần nữa, lần này có lẽ là lần định hình nên kiến trúc và diện mạo của chùa cho đến ngày nay, bao gồm toàn diện các toà nhà đều được trùng tu lại cho thêm mới. Bia tháp Tôn Đức dựng năm 1739 cho biết "trụ trì chùa Ninh Phúc là Sa môn Tính Hài hưng công tu sửa trang hoàng, tu dựng tượng vàng ngày lành tháng 4 năm Kỷ Mùi niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 5 (1739) triều Lê". Cũng trong lần tu sửa này toà Cửu phẩm liên hoa cũng được tạo dựng.

Sau bao tan biến của bể dâu, triều chính thay đổi, dân tình nghèo đói tan tác, dấu cũ chùa xưa thêm tiêu điều, các cao tăng thạc đức của chùa vắng bóng như hầu hết các chùa trên đất Việt giai đoạn này. Cũng từ đây không còn dấu sách, văn bia nào ghi chép về các thiền sư của chùa mà chỉ còn lại đôi chút hình ảnh chùa Bút Tháp trong các thư tịch về một thắng tích còn vang bóng một thời.

Đầu thời Nguyễn, sau một thời gian đất nước dần trở về sự ổn định và nhân dân yên ổn làm ăn thì nhu cầu tâm linh của họ được chú trọng. Cùng với thời gian diện mạo chùa xưa nay đã tiêu điều, chuông cũ tiếng vang không còn được như xưa, dân tình và các quan viên hương lão đã họp bàn đúc lại chuông, bài minh trên chuông chùa cho biết chùa xưa rất lớn "vào các năm Dương Hoà, Phúc Thái tu sửa chùa chiền được 120 gian". Bài minh chỉ ghi việc đúc lại quả chuông mà thôi.

Sang thế kỷ 20, Tổng đốc Ninh Thái là Hoàng Trọng Phu đi qua vùng Thuận Thành thấy chùa hoang vắng tàn lụi nên bàn bạc cùng quan lại thu thập tiền của mà trùng tu "từ ngày 1 tháng 10 năm Quý Mão khởi công tu sửa chùa, tới ngày 15 tháng 3 năm Giáp Thìn (1905) thì hoàn thành". Từ đó tới nay đã hơn 100 năm, chùa lại mấy lần được sửa sang, như các năm 1937, 1940, 1957 và gần đây là đợt có quy mô lớn vào các năm 1990-1993.

Ngày nay chùa xưa dấu cũ vẫn trang nghiêm với những dải "ngô khoai biêng biếc", "những cô hàng xén răng đen" bên làng vùng ven sông Đuống. Bút Tháp vẫn vút trên trời xanh tâm linh của vùng Kinh Bắc, mang dư hưởng cho khách thập phương và bậc thức giả chút thảnh thơi và hiểu thêm về một chốn tổ thiền

img_0192_500

Bức hoành phi cổ treo trước Tam bảo khắc 4 chữ Hán"Ninh Phúc thiền tự". Dòng lạc khoản ghi rõ năm trùng tu chùa: "Dương hoà bát niên tuế thứ nhâm ngọ trọng hạ..." (tháng 5 năm 1642).

imageview_aspx_thumbnailid_276438

Bức tượng Phật Quan Âm nghìn tay nghìn mắt (Thiên thủ thiên nhỡn) ở chùa Bút Tháp, một kiệt tác độc nhất vô nhị về tượng Phật và nghệ thuật tạc tượng Việt Nam.

 

102_500

Tháp Bảo Nghiêm, nơi thờ hòa thượng Chuyết Chuyết giống như cây bút khổng lồ vươn thẳng tới trời cao thanh vắng.


vn_but_thap1_tango7174_500

Ai đứng bên cầu ....đợi ai ? ... Cầu đá nhà Tích Thiện Am, một nét đặc sắc của nghệ thuật điêu khắc đá chùa Bút Tháp.

img_0200_500 

Toà "Cửu phẩm liên hoa" (Bông hoa sen chín tầng) một tuyệt tác trong nghệ thuật điêu khắc gỗ thế kỉ 17 của chùa Bút Tháp

20160216_145902-1_500

Tranh thủ làm chị hai quan họ để lưu dấu chuyến du Xuân đầu năm.

img_5221_500

 

Ra cổng Tam quan, chia tay đất Phật chùa Bút Tháp, gặp "Cụ đồ" đồng nghiệp đang cho chữ đầu xuân, được Thầy tặng cho chữ Tuệ (TRÍ TUỆ) với lời chúc đầu năm: Trí tuệ luôn trong sáng, minh tuệ, vô thường. Tự nhiên thấy vui vui và suy ngẫm về tục xin chữ đầu năm, một nét văn hóa đặc sắc của người Việt Nam. 

20160216_154609_500

 Chụp ảnh kỉ niệm với "Cụ đồ" tặng chữ đầu xuân

 20160216_154345_500

 

Tạm biệt chuyến du Xuân đi lễ cầu may đầu năm.

"Bóng chiều đã ngả, dặm về còn xa", chia tay với buổi chiều du xuân đầy ý nghĩa, văng vẳng đâu đây câu hát giã bạn của Người quan họ" Đương vui í ơ như thế này , chúng em trở ra về, rằng có nhớ đến chúng anh chăng, rằng có nhớ đến chúng em chăng ??? ...

Người ơi người ở ... đừng về ...! "

 


Nhắn tin cho tác giả
Hồ Thị Mơ @ 09:53 18/02/2016
Số lượt xem: 228
Số lượt thích: 2 người (Nguyễn Đình Triển, Hồ Thị Mơ)
 
Gửi ý kiến